Có gì mới
Zhuang và cộng sự (2025) trên Nature Communications xây dựng khung xác định vùng trú ẩn khí hậu biển (marine climate refugia, MCR). MCR được định nghĩa là khu vực vừa có ổn định khí hậu tương đối đến giai đoạn 2090–2100 dưới kịch bản phát thải cao SSP5-8.5, vừa có đồng thuận bảo tồn (được ít nhất hai lớp ưu tiên bảo tồn toàn cầu cùng nhận diện).
Ổn định/nhạy cảm khí hậu được suy ra từ 11 lớp biến khí hậu (2010–2020 so với 2090–2100) qua mô hình Zonation và phân tích điểm nóng Getis–Ord Gi*. Đồng thuận bảo tồn được xác định bằng chồng xếp bốn lớp ưu tiên toàn cầu (SGP, Global 200 Ecoregions, EBSAs, KBAs) để tạo khu vực đồng thuận (CCA), sau đó lấy giao giữa CCA và vùng ổn định để tạo MCR.
Kết quả cho thấy vùng nhạy cảm chiếm khoảng 36% và vùng ổn định chiếm khoảng 34% đại dương. CCA chiếm khoảng 9% diện tích đại dương. Diện tích MCR là 17.622.073 km², trong đó 96% nằm trong EEZ (105 EEZ). Hai mươi mảng MCR “quy mô lớn” (≥150.000 km²) chiếm 85% tổng diện tích; 16/20 mảng lớn trải qua từ hai EEZ trở lên.
Tại sao quan trọng?
Khung MCR cung cấp một cách sàng lọc ưu tiên không gian có xét đến tính chống chịu khí hậu và yêu cầu đồng thuận giữa nhiều lớp ưu tiên toàn cầu. Điều này hữu ích cho quy hoạch và phân tích khoảng trống ở quy mô rộng, nhất là nơi dữ liệu sinh học chi tiết còn hạn chế.
Khi chồng xếp với MPAs/OECMs trong WDPA (dữ liệu 8/2024), chỉ 14% MPAs/OECMs nằm trong MCR; trong khi 70% diện tích MCR chưa được MPAs/OECMs bao phủ (12.347.319 km²). Kết quả này gợi ý sự lệch pha giữa các vùng có tiềm năng ổn định khí hậu và cấu hình mạng lưới bảo tồn hiện hữu.
Về sinh thái học, MCR có thể hỗ trợ duy trì điều kiện nền tương đối ổn định cho hệ sinh thái và sinh cảnh kiếm ăn. Với các loài di cư như rùa biển, lồng ghép lớp ổn định khí hậu vào lựa chọn vị trí KBTB/OECM có thể giảm rủi ro các khu vực trọng yếu trở nên kém phù hợp; tuy nhiên, MCR không thay thế phân tích theo loài và cần đối chiếu bằng dữ liệu địa phương.
Ý nghĩa đối với chính sách
Kết quả liên quan đến Mục tiêu 3 của Khung Đa dạng sinh học Côn Minh–Montreal (GBF), yêu cầu đến năm 2030 bảo tồn và quản lý hiệu quả ít nhất 30% diện tích biển–ven biển thông qua khu bảo tồn và OECM có tính đại diện và kết nối. CBD định nghĩa OECM là khu vực được xác định theo không gian (khác với khu bảo tồn) nhưng được quản trị/quản lý theo cách tạo ra kết quả bảo tồn đa dạng sinh học tại chỗ tích cực và bền vững dài hạn.
Ở cấp triển khai, ba gợi ý thực hành từ nghiên cứu gồm:
- Tích hợp vào quy hoạch: dùng MCR/vùng ổn định như lớp tiêu chí bổ sung trong quy hoạch không gian biển và thiết kế mạng lưới KBTB/OECM, rồi kiểm tra chéo với sinh cảnh, áp lực khai thác và tính kết nối.
- Quản lý thích ứng: theo dõi rủi ro khí hậu đối với các KBTB/OECM nằm trong vùng nhạy cảm và cập nhật mục tiêu/biện pháp quản lý.
- Phối hợp xuyên biên giới: ưu tiên cơ chế phối hợp khi MCR quy mô lớn trải qua nhiều EEZ (chia sẻ dữ liệu, giám sát tuân thủ, hài hòa biện pháp quản lý).
Nếu lấp đầy khoảng trống bảo tồn trong MCR, nghiên cứu ước tính tỷ lệ bảo tồn tại chỗ có thể tăng lên khoảng 14% ở phạm vi đại dương toàn cầu và 30% trong EEZ.
Tham khảo: Zhuang, H., Zhao, L., Wang, Z., Zhang, Z. & Yang, L. (2025). Identifying global marine climate refugia through a conservative approach to ocean biodiversity preservation. Nature Communications 16:10752. doi: 10.1038/s41467-025-65791-z.
Xác định ‘vùng trú ẩn khí hậu biển’ toàn cầu bằng cách tiếp cận thận trọng cho bảo tồn đa dạng sinh học đại dương
Tags
Web Dev
Crypto
MPA
OECM
Research
Published
January 20, 2021
Author
Cuong Chu